Thứ Sáu, ngày 17 tháng 4 năm 2009

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH LUẬT CHỐNG ĐỘC QUYỀN NHẬT BẢN

(Trích từ ấn phẩm Luật chống độc quyền Nhật Bản, Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương năm 2006)

Luật Chống độc quyền của Nhật Bản đã trải qua nhiều lần sửa đổi, những lần sửa đổi này gắn liền với từng giai đoạn lịch sử nhất định của quá trình phát triển kinh tế của Nhật Bản. Nói cách khác, pháp luật cạnh tranh là một bộ phận và thậm chí là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của chính sách kinh tế vĩ mô. Ủy ban Thương mại Lành mạnh của Nhật Bản cũng vậy, cùng với quá trình phát triển của Luật Chống độc quyền, Ủy ban cũng đã trải qua một số mô hình khác nhau. Hiện nay Ủy ban Thương mại Lành mạnh trực thuộc Văn phòng nội các là cơ quan hoạch định các chính sách vĩ mô quan trọng nhất của Nhật Bản, đây là một cơ quan độc lập với các lợi ích khác cùng với việc Luật Chống độc quyền được tăng cường sức mạnh trong bối cảnh chính phủ Nhật Bản đang tìm cách cải cách triệt để nền kinh tế của mình. Có thể nói trong quá trình cải cách này chính sách cạnh tranh là một trong những chính sách chủ chốt của chính phủ Nhật Bản nhằm đem lại sức cạnh tranh cho nền kinh tế nội địa. Để có thể làm rõ những vấn đề như vậy, Để làm sang tỏ vấn đề này, trong quá trình soạn thảo cuốn sách chúng tôi luôn cố gắng làm rõ bối cảnh kinh tế, xã hội đằng sau các giai đoạn phát triển, biến đổi của Luật Chống độc quyền.

Có thể nói cách tiếp cận của Luật Chống độc quyền Nhật Bản khá đặc biệt so với cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh của Việt Nam. Luật Chống độc quyền đánh giá dựa trên tác động của vụ việc hoặc hành vi trong khi Luật Cạnh tranh có xu hướng cụ thể hóa các quy định bằng các con số quy định cụ thể về thị phần, hoặc hành vi cụ thể


Luật Cạnh tranh của Nhật Bản được biết đến dưới cái tên Luật Chống độc quyền (tên chính thức: Đạo luật về việc chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại lành mạnh – Act concerning Prohibition of Private Monopolization and Maintenance of Fair Trade) được ban hành vào tháng 7 năm 1947, là một phần cấu thành trong các biện pháp xây dựng nền kinh tế hỗ trợ cho một xã hội dân chủ.

Sau chiến tranh thế giới II, các biện pháp dân chủ hóa được áp dụng trên mọi lĩnh vực trong đời sống Nhật Bản. Chính sách dân chủ hóa công nghiệp, được coi là một phần quan trọng trong chính sách dân chủ hóa kinh tế, bao gồm việc ngừng thực hiện các biện pháp cũ trong hệ thống gây hạn chế cạnh tranh trước đây, như giải thể các tập đoàn tài phiệt, ngăn chặn tập trung kinh tế và xóa bỏ các nhóm kiểm soát tư nhân, thực hiện các biện pháp xây dựng cho nền tảng chính sách cạnh tranh như ban hành Luật Chống độc quyền. Tất cả những biện pháp này đều tập trung vào mục tiêu thiết lập nền kinh tế cạnh tranh năng động, trên cơ sở kinh tế thị trường.

Mục đích của Luật được ghi nhận ngay tại Điều 1: “Luật Chống độc quyền có mục đích cấm độc quyền tư nhân, hạn chế thương mại bất hợp lý và kinh doanh không bình đẳng, ngăn ngừa mức độ tập trung quá mức nguồn lực thị kinh tế và loại bỏ hạn chế bất hợp lý về sản xuất, cung cấp hàng hóa, giá cả, phát triển công nghệ v.v.. cũng như các hạn chế kinh doanh khác thông qua thông đồng, thỏa thuận nhằm mục đích nhằm mục đích thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng, khuyến khích tính sáng tạo và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng việc làm và thu nhập thực tế của nhân dân; từ đó thúc đẩy sự phát triển toàn diện và dân chủ của nền kinh tế quốc dân cũng như đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng nói chung.

Bên cạnh Luật Chống độc quyền, đạo luật xương sống trong hệ thống pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản. Nhật Bản cũng ban hành các chính sách khuyến khích hoạt động cạnh tranh phát triển bền vững thông qua việc ban hành các đạo luật bổ sung như: Luật Hợp đồng phụ, thông qua vào tháng 7 năm 1956, Luật về chỉ dẫn và khuyến mại thông qua năm 1962.

Xem xét lịch sử hình thành và phát triển của Luật Chống độc quyền của Nhật Bản, có thể chia thành 2 giai đoạn [1]: Từ khi được thông qua đến năm 1980 và nửa sau những năm 1980 đến nay.

a. Giai đoạn 1: Từ khi được thông qua đến năm 1980

- Vào năm 1947, Luật Chống độc quyền – đạo luật về cạnh tranh của Nhật Bản đã được ban hành
Các cuộc cải cách hiện đại hóa toàn diện nước Nhật khởi nguồn từ thời kỳ Minh Trị, diễn ra khoảng 130 nước về trước. Hệ thống kinh tế Nhật Bản kể từ thời kỳ Minh Trị đã trở thành một nền kinh tế định hướng thị trường thực thụ, tuy nhiên, điểm hạn chế là không có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh hành vi các-ten, độc quyền và tập trung kinh tế trước thời điểm kết thúc Thế chiến II. Bên cạnh đó, có hiện tượng một số ít các gia đình kiểm soát nhiều doanh nghiệp trong các ngành khác nhau dưới hình thức các công ty cổ phần thuộc quyền sở hữu của từng gia đình. Những nhóm doanh nghiệp này được gọi theo tiếng Nhật là “zaibatsu” – có thể tạm dịch là “tổ hợp thương mại”. Từ giai đoạn Đại Suy thoái vào đầu những năm 1930 đến khi kết thúc Thế chiến II, chính phủ Nhật Bản đã viện đến phương sách mở rộng kiểm soát nền kinh tế, chủ yếu thông qua các hiệp hội thương mại, nhằm mục đích huy động tất cả các nguồn lực kinh tế quốc dân cho mục đích quân sự.
Sau khi chiến tranh thế giới II chấm dứt, dưới áp lực chiếm đóng của quân đồng minh, các biện pháp dân chủ hóa mạnh mẽ đã được áp dụng trên mọi lĩnh vực trong đời sống Nhật Bản. Chính sách dân chủ hóa công nghiệp, được coi là một phần quan trọng trong chính sách dân chủ hóa kinh tế, bao gồm việc ngừng thực hiện các biện pháp cũ trong hệ thống gây hạn chế cạnh tranh trước đây, như giải thể các tập đoàn tài phiệt “zaibatsu” như: Mitsubishi, Mitsui or Sumitomo… , ngăn chặn tập trung kinh tế và xóa bỏ các nhóm kiểm soát tư nhân bên cạnh đó, thực hiện các biện pháp nền tảng liên quan đến chính sách cạnh tranh trong tương lai như việc ban hành Luật Chống độc quyền. Tất cả những biện pháp này đều tập trung vào mục tiêu thiết lập nền kinh tế cạnh tranh năng động, trên cơ sở kinh tế thị trường.

Trong bối cảnh đó, Luật Chống độc quyền của Nhật Bản đã được ban hành, dựa trên mô hình Luật Chống độc quyền của Hoa Kỳ[2], động thái này được coi là hành vi thực hiện một phần trong chính sách của quân đồng minh. Một số ý kiến của giới doanh nhân cho rằng đạo luật cạnh tranh là không phù hợp với nước Nhật, điều này do “văn hóa kinh doanh hài hòa” nằm trong suy nghĩ của doanh nhân Nhật từ rất lâu, thậm chí ngay cả Chính phủ cũng đã chấp nhận quan điểm rằng một số vụ các-ten chính là công cụ hữu hiệu đối với chính sách phát triển ngành [3].

Nhật Bản đã thông qua luật và chính sách cạnh tranh một cách khẩn trương và tích cực thực thi, đưa các quy định pháp luật vào đời sống thực tiễn, tuy nhiên khái niệm về chính sách cạnh tranh và phát triển kinh tế qua cạnh tranh vẫn chưa ăn sâu, bén rễ ngay lập tức ở nước Nhật, và trong thời kỳ này thì chính sách cạnh tranh vẫn chưa thể thay thế chính sách kiểm soát nền kinh tế.

- Những năm 50, thời kỳ đen tối[4] của đạo Luật Chống độc quyền

Vấn đề trước mắt của nước Nhật ngay sau khi lực lượng chiếm đóng dời đi chính là dành được độc lập về kinh tế. Do đó, chính sách của Chính phủ lúc này là khuyến khích và đẩy mạnh phát triển các ngành sản xuất nội địa nhằm thu ngoại tệ. Điều này dẫn đến việc Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật khác nhau loại trừ một số lượng lớn ngành công nghiệp ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật Chống độc quyền, với mục đích chính là nới lỏng các quy định liên quan đến các-ten, đây là một bước lùi về mặt lập pháp trong chính sách cạnh tranh. Trong thời gian này, “văn hóa kinh doanh hài hòa” trong tập quán kinh doanh của Nhật Bản vẫn còn rất nặng nề, điều đó thể hiện ở giới doanh nhân cho rằng không nên chỉ một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp nào đạt được sự phồn thịnh cho riêng bản thân doanh nghiệp mình. Trên cơ sở đó, kinh doanh theo kiểu “đoàn tàu hộ tống”[5], trong đó các tổ hợp thương mại hay các tập đoàn lớn đóng vai trò đầu tàu và khi những doanh nghiệp này phát triển, tiến lên thì chúng có nghĩa vụ kéo theo các toa tàu - là các doanh nghiệp, thương nhân có quy mô nhỏ hơn đi theo. Tập quán kinh doanh này là một trong những yếu tố kìm hãm sự phát triển và thực thi chính sách cạnh tranh của Nhật Bản khi quân đồng minh rút đi.

Trước bối cảnh đó, trong lĩnh vực hành chính, các biện pháp hành chính hạn chế cạnh tranh, không tương thích với chính sách chống độc quyền được thực thi trong nhiều ngành suốt thời kỳ suy thoái nhằm ổn định thị trường và ngăn chặn cạnh tranh quá mức, thông qua đó, hạn chế việc áp dụng Luật Chống độc quyền của Ủy ban Thương mại Lành mạnh (Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản). Nhằm chống lại các động thái nới lỏng chính sách chống độc quyền, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã kiên quyết củng cố các nguyên tắc của Luật và nghiêm túc chống lại các hành vi thương mại bất bình đẳng liên quan chủ yếu đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, là những đối tượng thường ở thế bất lợi trong thương mại và cạnh tranh, ví dụ như các quy định chống lại việc trì hoãn thanh toán với nhà thầu phụ, các quy định ngăn chặn việc lạm dụng vị trí thống lĩnh trong thương lượng của các cửa hàng bách hóa v.v.. Những nỗ lực trên nhằm chống lại các hành vi thương mại bất bình đẳng trong giai đoạn này, nâng cao nhận thức của quần chúng và hỗ trợ chính sách chống độc quyền.

- Thời kỳ xây dựng chính sách tiêu dùng và giải quyết các vụ hợp nhất quy mô lớn từ quan điểm của chính sách cạnh tranh (những năm 1960)

+ Tiếp cận các vụ hợp nhất và mua lại quy mô lớn:

Trong thời kỳ này, việc nới lỏng các quy định về thương mại, ngoại hối và vốn có ảnh hưởng đến cơ sở pháp lý cơ bản của nền kinh tế Nhật Bản. Vào thời gian này, nền kinh tế nước Nhật đã được quốc tế hóa thông qua các biện pháp đã kể trên, và liên kết chặt chẽ với thị trường thế giới thông qua nhập khẩu các nguyên liệu thô và xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến. Thông qua những diễn biến này, kinh tế Nhật Bản được coi là đường liên kết trong chuỗi kinh tế thế giới và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ở quy mô quốc tế.

Với bước ngoặt là việc nới lỏng các quy định pháp luật, các cuộc thảo luận về cơ cấu lại ngành bằng cách hợp nhất, sáp nhập các doanh nghiệp, tập trung sản xuất và tập hợp nhóm doanh nghiệp được xúc tiến, do các cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách đóng vai trò làm nhân tố chủ chốt, trong khi đó một tỷ lệ nhỏ các doanh nghiệp Nhật Bản định hướng tới cạnh tranh quá mức cần thiết. Kết quả, các vụ hợp nhất quy mô lớn gia tăng trong các lĩnh vực trọng yếu. Tình trạng “Cạnh tranh quá mức”[6] là tình trạng doanh nghiệp Nhật Bản thuộc loại nhỏ, xét theo tiêu chuẩn quốc tế, tham gia vào cạnh tranh quá mức thông qua sản xuất quy mô nhỏ đa dạng, gây ra các trạng thái tài chính sai lệch như sự gia tăng vốn của các cổ đông.

Một trong những vụ hợp nhất quy mô đặc biệt lớn trong thời kỳ này chính là hợp nhất 2 doanh nghiệp thép quan trọng, Yawata và Fuji, vụ hợp nhất lớn nhất thời kỳ hậu chiến của Nhật Bản trong thời gian đó, đồng thời cũng là vụ hợp nhất của 2 tập đoàn số một và số hai trong ngành công nghiệp chủ chốt – thép của Nhật Bản[7]. Có thể nhận định rằng, kết quả của việc hợp nhất này có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế quốc dân, bởi vì tập đoàn mới hình thành nắm mức thị phần trên 30% của hơn 20 loại sản phẩm, gây ra những vấn đề phức tạp trong chính sách cạnh tranh. Một số quan điểm ủng hộ cho rằng vụ hợp nhất này là cần thiết, thúc đẩy quá trình cơ cấu lại các ngành theo hướng nới lỏng hệ thống kinh tế, thì một số quan điểm khác lại nhận định rằng vụ việc này sẽ có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế quốc dân[8]. Do đó, quyết định của Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản được chú ý ở mức độ cao, và làm phát sinh các cuộc tranh luận giữa các học giả cũng như dư luận chung trên phương tiện truyền thông đại chúng. Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã mở một phiên điều trần nhằm mục đích điều tra vụ việc và sau cùng đã phê chuẩn việc thực hiện hợp nhất đồng thời yêu cầu một số biện pháp khắc phục khác nhau.

Mặc dù đạo Luật Chống độc quyền chưa thực sự làm thể hiện được chức năng của nó trong giai đoạn này, giai đoạn của tập trung các quyền lực kinh tế thông qua việc hợp nhất các doanh nghiệp. Tuy nhiên, vụ Yawata và Fuji đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng, và những tranh luận xung quanh vai trò của đạo Luật Chống độc quyền đã trở nên sôi nổi hơn. Bên cạnh đó, vụ việc này cũng đưa ra một minh chứng rõ ràng rằng để các vụ hợp nhất quy mô lớn được phê chuẩn không phải lúc nào cũng dễ dàng.

+ Tiếp cận chính sách tiêu dùng từ góc độ chính sách cạnh tranh

Một sự kiện đặc biệt trong suốt giai đoạn này là sự xuất hiện một cách nhìn mới đối với vấn đề bảo vệ lợi ích người tiêu dùng cùng với việc tăng lương công nhân, nhờ vào hệ thống sản xuất hàng loạt, kết quả của các phát minh công nghệ, kèm theo thay đổi trong điều kiện kinh tế và gia tăng thu nhập (còn được gọi là cách mạng thu nhập). Trong khi đó, thì các rắc rối tiêu dùng cũng nảy sinh, ví dụ như quảng cáo gian dối, phóng đại do cạnh tranh, các sản phẩm có khuyết tật cùng với việc phát triển sản phẩm mới, sự tồn tại của các chất độc hại trong thực phẩm và các sản phẩm gây nguy hiểm khác v.v..

Trong hoàn cảnh đó, vào năm 1960, vụ “thịt bò đóng hộp Nise” [9] đã xảy ra, tạo nên bước ngoặt trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Nhật Bản, đồng thời nâng cao vai trò của Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản trong việc xử lý các hành vi thương mại gian dối. Vụ việc này bắt đầu vào tháng 9 năm 1960 khi một người tiêu dùng liên lạc đến cơ quan y tế Tokyo để khiếu nại về một hộp thịt bò chất lượng kém (có ruồi ở bên trong) do tập đoàn Nise sản xuất, cơ quan y tế đã mở cuộc điều tra và phát hiện ra hầu hết các hộp thịt bò này đều được làm từ thịt cá heo, tuy không tìm ra được bằng chứng là thịt cá heo gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng, nhưng rõ ràng hành vi của Nise là đóng nhãn không trung thực. Vấn đề khó khăn là cả cơ quan y tế, hay Bộ Y tế Xã hội của Nhật Bản đều không có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm loại này.
Tình huống này đã thúc đẩy các động thái liên quan đến bảo vệ tiêu dùng thông qua kiểm soát các hành vi thương mại gian dối. Tuy nhiên, không một quy định pháp luật nào phù hợp nhằm điều chỉnh và giải quyết các vấn đề này, do đó, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã ban hành lệnh đình chỉ và chấm dứt thực hiện các hành vi thương mại gian dối, làm cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn dựa trên quy định của Luật Chống độc quyền. Như vậy, mối liên hệ giữa chỉ dẫn gian dối và chính sách cạnh tranh xuất phát từ vụ “thịt bò đóng hộp”, và với bước tiến này, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản được nhìn nhận là một trong số các cơ quan đóng vai trò chủ yếu trong công tác bảo vệ người tiêu dùng.

Vào năm 1962, đạo luật cấm khuyến mãi không trung thực và chỉ dẫn gây nhầm lẫn (Luật về chỉ dẫn và khuyến mãi) nhằm kiểm soát các hành vi chỉ dẫn và khuyến mãi không lành mạnh theo nhận định của chính sách cạnh tranh, được ban hành bổ sung và hỗ trợ cho Luật Chống độc quyền. Với việc đạo Luật này được ban hành và thực thi nhận thức của xã hội về vai trò của Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã được nâng cao.

- Thời kỳ nâng cao nhận thức về chính sách cạnh tranh thông qua các biện pháp đình chỉ và chấm dứt các hành vi phản cạnh tranh ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân (từ những năm 1970)

Trong suốt thời kỳ này, khủng hoảng tài chính tiền tệ và dầu lửa đã gây tác động mạnh đến nền kinh tế Nhật Bản. Trong xã hội hình thành mối lo ngại rằng một nền kinh tế, vốn đang trong tình trạng suy thoái, có thể trở nên xấu hơn nữa do giảm sút hàng xuất khẩu do “Cú sốc Nixon” vào năm 1971. Hàng loạt đơn xin thực hiện các-ten trong thời kỳ suy thoái, đối tượng hưởng miễn trừ theo quy định của Luật Chống độc quyền, đã được nộp.

Khi nền kinh tế bắt đầu phục hồi thì xuất hiện đợt tăng giá bất thường. Lúc này, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã hành động một cách kiên quyết đối với các hành vi tăng giá theo phong trào nhằm mục đích trục lợi từ những đợt tăng mạnh về giá nói chung. Hành vi đầu cơ thương mại của các doanh nghiệp kinh doanh là vấn đề chính trong suốt quá trình tăng giá bất thường, do vậy, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã xem xét những rắc rối trong chính sách cạnh tranh bằng cách tiến hành điều tra hành vi của những doanh nghiệp kinh doanh này.

Trạng thái lạm phát bất thường theo sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào năm 1973, đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng và bất ngờ về giá. Rất nhiều nhà cung cấp, như các nhà sản xuất đã tham gia tiến hành các-ten bất hợp pháp nhằm mục đích tăng giá hưởng lợi trước khi chi phí tăng lên, do đó việc tăng giá các nguyên liệu thô không được xác định cụ thể. Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã phát hiện từng vụ việc các-ten bất hợp phát và ban hành các lệnh đình chỉ và chấm dứt. Sau cùng, vào tháng 2 năm 1974, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã buộc tội các bên có liên quan đến trong một vụ các-ten của các doanh nghiệp bán buôn dầu lửa, hạn chế khối lượng chuyển nhượng dầu thô để sản xuất sản phẩm từ dầu, trước Ủy viên công tố tối cao, căn cứ vào Luật Chống độc quyền[10]. Đây là lần đầu tiên Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản buộc tội một đối tượng trong vụ các-ten và các chế tài hình sự trở thành biện pháp cứng rắn và hiệu quả để ngăn chặn các-ten.

Vụ việc các-ten về dầu mỏ đã thể hiện 2 vấn đề khác nhau. Thứ nhất, mặc dù Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản ban hành các lệnh đình chỉ và chấm dứt cũng như các chế tài hình sự được áp dụng nhưng xu hướng nhận thức rằng thà tiến hành các-ten còn tốt hơn là không hành động gì rất khó xóa bỏ trong tình huống này. Vấn đề thứ hai nằm ở chỗ các chỉ dẫn hành chính được sử dụng trong các vụ các-ten.

Những vấn đề phức tạp xung quanh các vụ các-ten đã được thảo luận trong nhiều năm, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã công nhận rằng, hành vi các-ten, phù hợp với các chỉ dẫn hành chính, vẫn có thể vi phạm Luật Chống độc quyền. Quá trình khởi tố vụ việc và buộc tội tại Tòa án tối cao đã đánh dấu bước ngoặt về nhận định hạn chế cạnh tranh thông qua các chỉ dẫn hành chính.

Trong giai đoạn này, vào năm 1977, Luật Chống độc quyền đã được sửa đổi, nhằm củng cố, tăng cường khả năng thực thi của luật, với điểm nổi bật là đưa ra cách tính tiền phạt dựa trên doanh thu.

b. Giai đoạn 2: Từ năm 1980 đến nay:

- Thời kỳ tăng cường pháp luật cạnh tranh thông qua việc nới lỏng và giảm bớt các biện pháp miễn trừ (thời kỳ 1980-90)

Một trong những điểm nổi bật của chính sách cạnh tranh trong thời kỳ này chính là việc cải cách các quy định pháp luật. Vào nửa sau của những năm 1980, chính sách nới lỏng các quy định đã được ban hành nhằm mục đích mở cửa nền kinh tế Nhật Bản và tăng số lượng hàng nhập khẩu để hạ nhiệt xung đột thương mại, do nguyên nhân là thặng dự thương mại khổng lồ của Nhật Bản. Vào năm 1990, sự tăng giá của đồng yên Nhật được coi là một yếu tố dẫn đến yêu cầu cải cách cơ cấu, do đồng tiền này gây ra sự khác biệt về giá giữa trong và ngoài nước Nhật. Mặt khác, sự tăng giá này đã khuyến khích các doanh nghiệp chuyển dịch hoạt động sản xuất, kinh doanh ra nước ngoài, gây ra tình trạng thiếu hụt ở một số ngành sản xuất trong nước và mất ổn định về việc làm.

Vào thời gian này, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản dựa trên các kiến nghị của OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) vào năm 1979 đã tiến hành các cuộc cải cách về cơ cấu, phối hợp với cơ quan có liên quan vào đầu những năm 1980. Trong suốt thời gian này, việc nới lỏng các quy định đã không nhận được sự đồng tình của toàn xã hội, tuy nhiên, vào khoảng những năm 1990 thì sự khác biệt về giá giữa Nhật Bản và các quốc gia khác đã cho thấy tầm quan trọng của việc nới lỏng các quy định. Tiêu điểm của việc nới lỏng các quy định pháp luật vào đầu những năm 1990 đã chuyển từ việc giảm gánh nặng lên công chúng, đơn giản hóa và hợp lý hóa thủ tục hành chính và tận dụng các nguồn lực tư nhân, thành việc đặt trọng tâm vào cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm sự khác biệt về giá giữa trong nước và ngoài nước, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, kết hợp hài hòa các thiết chế và cơ cấu quốc tế, sắp xếp lại cơ cấu ngành, khuyến khích tham gia thị trường của các đối tượng mới v.v.. và những hoạt động phù hợp với chính sách cạnh tranh. Đối với một số ngành sản xuất mới được nới lỏng các quy định, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã ban hành các hướng dẫn, xác định những hành vi có khả năng vi phạm Luật Chống độc quyền nhằm thiết lập một môi trường cạnh tranh hiệu quả, lành mạnh.

Mặt khác, vào khoảng những năm 1990, cơ chế miễn trừ quy định trong Luật Chống độc quyền đã được xem xét, rà soát lại. Nhiều quy định có liên quan đến cơ chế miễn trừ này đã ăn sâu vào nhiều ngành kinh tế khác nhau vào cuối những năm 1940 và 1950 nhằm mục đích ổn định và hợp lý hóa hoạt động quản lý các doanh nghiệp nhằm mục đích tăng cường sức mạnh của các ngành kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế.

Tuy nhiên, yêu cầu đối với cơ chế miễn trừ đã thay đổi giống như yêu cầu đối với các quy định chính phủ, do môi trường kinh doanh được cải thiện, Nhật Bản đã trở thành một cường quốc kinh tế, khả năng tài chính của các công ty được nâng cao và phong cách sống đa dạng. Cơ chế miễn trừ có thể bảo vệ được các ngành kinh tế hiện tại nhưng lại làm yếu khả năng quản lý, và như vậy có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người tiêu dùng, do đó cần được rà soát lại. Trước những nỗ lực lớn lao của Ủy ban Thương mại Lành mạnh, đặc biệt là trên thực tế đã xuất hiện một số hành vi kinh doanh thông đồng tuy đủ điều kiện hưởng miễn trừ mà không đáp ứng được các mục tiêu ban đầu của Chính phủ khi đặt ra cơ chế miễn trừ. Do đó, cơ chế miễn trừ đã được thắt chặt và giảm thiểu từ 89 loại miễn trừ xuống còn 21 loại như hiện nay, để đạt được điều này Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã phải đối mặt với nhiều thử thách khó khăn.

Trong giai đoạn này, Luật Chống độc quyền đã có 2 lần sửa đổi:

+ Sửa đổi đề tăng cường hiệu quả thực thi của Luật Chống độc quyền (1991, 1992) có nội dung chính là tăng cường mức phạt tính theo doanh thu, củng cố các chế tài hình sự.

+ Thắt chặt các điều kiện cho hưởng miễn trừ (1999, 2000).

- Sửa đổi nhằm nâng cao hiệu quả thực thi của Luật Chống độc quyền

Có thể nói lần sửa đổi gân đây nhất và được coi là lần sửa đổi triệt để, toàn diện nhất của Luật Chống độc quyền Nhật Bản kể từ sau năm 1977 đó là lần sửa đổi nhằm tăng cường hiệu quả thực thi của Luật vào năm 2005. Vào khoảng những năm 1990, Luật Chống độc quyền đã trải qua hàng loạt lần sửa đổi, với nội dung chặt chẽ hơn và khả năng thực thi hiệu quả, tích cực hơn. Đồng thời, cơ cấu tổ chức của Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản cũng được mở rộng để phù hợp với quy mô của Luật. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vụ việc các-ten và thông đồng đấu thầu nằm ngoài tầm kiểm soát của Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản, hơn thế, những vụ việc này còn xuất hiện sự tham gia của các doanh nghiệp, tập đoàn nổi tiếng, tiêu biểu của Nhật Bản, thậm chí có những doanh nghiệp còn bị phát hiện đã thực hiện hành vi vi phạm lặp lại nhiều lần. Trong bối cảnh đó, Luật Chống độc quyền – vũ khí để duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng đã được sửa đổi nhằm đáp ứng với hoàn cảnh thực tế, lấy trọng tâm là cải tiến hệ thống tính mức tiền phạt, được coi là biện pháp chế tài cứng rắn đối phó với các loại các-ten nghiêm trọng và đưa ra chính sách khoan dung.

Kể từ khi ban hành thông báo của nhóm nghiên cứu về Luật Chống độc quyền vào tháng 10 năm 2003, các cuộc thảo luận sôi nổi giữa các hiệp hội nghề nghiệp, hiệp hội ngành hàng, hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng cũng như các cơ quan quản lý nhà nước đã được tổ chức, nhằm thống nhất các quan điểm về các vấn đề của Luật Chống độc quyền. Các cuộc thảo luận này đã gây ra làn sóng tranh luận về đặc điểm của chi phí hành chính và nâng cao nhận thức về chính sách khoan dung - một công cụ hiệu quả để điều tra và xử lý các vụ các-ten, vốn rất khó khăn để khám phá do tính chất bí mật của các vụ việc loại này, trên cơ sở đó, thu hút quan điểm ủng hộ rộng rãi đối với chương trình khoan dung. Đây được coi là bước tiến đáng kể trong hoạt động lập pháp của Nhật Bản. Lần sửa đổi vào năm 2005 và có hiệu lực kể từ 1 tháng 1 năm 2006, tập trung vào 3 điểm quan trọng sau:

Thứ nhất: Tăng mức tiền phạt.

Mức tiền phạt đối với các nhà sản xuất quy mô lớn tăng từ 6% thành 10% doanh thu. Mức phạt trước đây chủ yếu được xem xét trên cơ sở giá thỏa thuận của các-ten, tuy nhiên thị phần của doanh nghiệp và phân bổ khách hàng cũng được coi là những yếu tố quyết định mức phạt của doanh nghiệp. Đồng thời, phạm vi áp dụng hình phạt cũng được mở rộng đối với ấn định giá mua (purchasing cartels) và độc quyền hóa tư nhân thông qua việc kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác và gây ra những tác động tương tự như các-ten. Cụ thể, các mức phạt được đưa ra như sau:

+ Nhà sản xuất – là doanh nghiệp quy mô lớn: mức phạt từ 6% đến 10%, đối với doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ: mức phạt từ 3% đến 4%.

+ Nhà bán lẻ - là doanh nghiệp quy mô lớn: mức phạt từ 2% đến 3%, đối với doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ: mức phạt từ 1 đến 1,2%.

+ Nhà bán buôn – là doanh nghiệp quy mô lớn: mức phạt từ 1% đến 2%, đối với doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ: mức phạt là 1% (không sửa đổi).

Ngoài ra, sửa đổi về mức tiền phạt còn bao gồm việc bổ sung các điều khoản về việc tăng hoặc giảm tiền phạt theo quy định của Luật Chống độc quyền. Theo các quy định trước đây, trong mọi trường hợp mức phạt tiền áp dụng cho một hành vi vi phạm pháp luật là không đổi, sau lần sửa đổi này, một doanh nghiệp chấm dứt hành vi vi phạm ngay từ những bước đầu tiên, có thể được xem xét giảm 20% tổng số tiền phạt, còn doanh nghiệp tái phạm nhiều lần hành vi vi phạm có thể chịu mức tăng 50% tổng số tiền phạt theo quy định pháp luật.

Thứ hai: Ban hành chính sách khoan dung.

Cần phải nhấn mạnh rằng, từ trước đến nay, trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, chưa từng có tiền lệ về việc thương lượng khi buộc tội, điều này được xem là không tưởng. Việc ban hành chính sách khoan dung nhằm mục đích xây dựng một hệ thống minh bạch, khách quan, không bao hàm yếu tố thương lượng. Mặt khác, một yếu tố quan trọng trong trường hợp này là đối với hệ thống cũ thì mức tiền phạt bắt buộc đối với tất cả các bên bị buộc tội, tuy nhiên các vụ các-ten và thông đồng đấu thầu là rất khó phát hiện vì được thực hiện một cách kín đáo, bí mật, như vậy áp dụng chính sách khoan dung thì xét tương quan lợi ích chung sẽ lớn hơn so với khoản tiền phạt thu được, vì những ảnh hưởng xấu do vụ các-ten đem lại nếu nó xảy ra là rất lớn. Tuy nhiên, trong 1 bài phát biểu của mình, ông Kazuhiko Takeshima đã nhấn mạnh rằng việc tăng mức hình phạt và ban hành chính sách khoan dung phải được xem xét một cách tổng thể bởi vì chỉ khi có các chế tài nghiêm khắc, cứng rắn mới có thể đảm bảo hiệu quả của chính sách khoan dung. Tổng số doanh nghiệp có thể nhận được chính sách khoan dung trong một vụ việc là 3 doanh nghiệp và chính sách khoan dung chỉ được áp dụng cho những doanh nghiệp cung cấp thông tin sớm nhất và quan trọng về vụ việc vi phạm.

Cuối cùng: Áp dụng quyền khám xét (biện pháp bắt buộc đối với điều tra hình sự)

Trung bình cứ 2 năm thì Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản lại nhận được hồ sơ của một vụ việc vi phạm có dấu hiệu hình sự, tuy nhiên với thẩm quyền điều tra mang tính hành chính theo hệ thống pháp luật trước đây thì Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản không thể chủ động tham gia vào các vụ việc. Do đó, theo luật sửa đổi, thì Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản được quyền điều tra chính thức, khám xét và thu giữ các tang vật có liên quan đến các doanh nghiệp là đối tượng điều tra. Tuy nhiên, để tiến hành điều tra hình sự, Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản phải nhận được lệnh từ phía Tòa án.

Một số sửa đổi khác:

+ Hủy bỏ yêu cầu thông báo với Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản khi một doanh nghiệp tiến hành tăng giá song song.

+ Sửa đổi lần đầu tiên thủ tục tiến hành phiên điều trần.

Nguyên nhân dẫn đến thành công trong lần sửa đổi này của Luật Chống độc quyền Nhật Bản

Theo ông Sadaaki Suwazono (Trưởng phòng lập kế hoạch chính sách cạnh tranh[11], Cục các vấn đề về Kinh tế của Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản) thì có nhiều nhân tố khiến cho Ủy ban Thương mại Công bằng Nhật Bản thực hiện đẩy mạnh cơ chế thực thi của Luật Chống Độc quyền một cách thành công, trong đó có 3 nhân tố nổi bật sau:

+ Thứ nhất, đó chính là khả năng lãnh đạo chính trị mạnh mẽ từ phía cựu Thủ tướng Koizumi, nếu không có điều này thì sẽ không có điểm khởi đầu cho quá trình sửa đổi. Mặt khác, lập trường chính trị minh bạch của vị Thủ tướng này được hỗ trợ bởi quan điểm rằng chính sách cạnh tranh đóng vai trò chủ chốt trong việc nới lỏng các ngành và thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

+ Thứ hai, phải nói đến đóng góp của các hiệp hội, tổ chức về thương mại có ảnh hưởng lớn, ví dụ như Ủy ban phát triển Kinh tế Nhật Bản, đã ủng hộ nhiệt tình cho kế hoạch sửa đổi Luật Chống độc quyền của Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản, tổ chức này rõ ràng thể hiện quan điểm qua việc phát biểu “điều quan trọng nhất là đi đến thống nhất rằng chỉ có cạnh tranh tự do, lành mạnh mới có thể đem lại nguồn sinh lực bền vững cho xã hội”. Đối chiếu với 2 lần sửa đổi trước đây, vào năm 1977 và 1991, không có một tổ chức thương mại nào ủng hộ việc đẩy mạnh cơ chế thực thi của Luật Chống độc quyền một cách rõ ràng, dứt khoát.

+ Thứ ba, chính là sự hỗ trợ từ phía các tổ chức người tiêu dùng khác nhau mà nhiều lần Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản đã có các buổi tọa đàm. Các tổ chức này hoàn toàn nhận thức rằng hành vi các-ten và thông đồng đấu thầu mang lại những tổn thất khó có thể cứu vãn cho người tiêu dùng và do đó, xã hội Nhật Bản cần có hệ thống thực thi luật đủ mạnh để xóa bỏ những hành vi vi phạm pháp luật dạng này. Thông qua một số báo cáo cho thấy các tổ chức này đã tiến hành các cuộc vận động hành lang đến các thành viên Nghị viện một cách tích cực và kiên trì.

Tóm lại, có thể khẳng định rằng nhân tố chính dẫn đến thành công trong quá trình đẩy mạnh chính sách cạnh tranh, thể hiện ở lần sửa đổi Luật Chống độc quyền năm 2005 chính là sự đồng thuận cao độ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, các tổ chức kinh tế-xã hội Nhật Bản coi chính sách cạnh tranh là đóng vai trò tích cực thúc đẩy kinh tế phát triển và tạo điều kiện cho quá trình nới lỏng các quy định. Khi đạo luật sửa đổi này chính thức có hiệu lực vào đầu năm 2006, cơ chế thực thi mới đã giúp vận hành tốt chức năng thị trường và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Có thể nói rằng, nhận thức chung về chính sách cạnh tranh đã lan tỏa khắp nước Nhật. Ngày nay, các doanh nhân Nhật Bản, bên cạnh cuộc cạnh tranh cam go, khốc liệt trên thị trường quốc tế cũng đã không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường nội địa bằng cách cải tiến kỹ thuật, công nghệ và tăng năng suất. Nền kinh tế Nhật Bản đã chuyển lên một tầm cạnh tranh mới trong quá trình phát triển; pháp luật và chính sách cạnh tranh cũng đã được sửa đổi và thực thi phù hợp hơn. Trong những năm tới đây, chắc chắn Luật Chống độc quyền sẽ còn phát huy hơn nữa vai trò nhân tố chủ chốt trong việc đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh ở Nhật Bản.




[1] Việc phân chia các giai đoạn này căn cứ trên quan điểm của Ông KAZUHIKO TAKESHIMA – Chủ tịch Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản trong bài phát biểu “Bài học kinh nghiệm từ Luật Chống độc quyền của Nhật Bản và tương lai luật và chính sách cạnh tranh của các nước Đông Á”. Hội nghị cơ quan cạnh tranh các nước Đông Á –Hà Nội, 2007.
[2] Theo Kazuhiko Takeshima (đã dẫn).
[3] Theo tài liệu “Thử thách của các cơ quan cạnh tranh nhằm đạt được các thành tựu kinh tế thông qua phát triển chính sách cạnh tranh” do Nhật Bản cung cấp trong kỳ họp thứ 2 của diễn đàn thảo luận toàn cầu về cạnh tranh, tổ chức vào 12-13 tháng 2 năm 2004
[4] Theo Kazuhiko Takeshima (đã dẫn).
[5] Gosou sendan housiki – Supporting Ships.
[6] Theo tài liệu “Thử thách của các cơ quan cạnh tranh nhằm đạt được các thành tựu kinh tế thông qua phát triển chính sách cạnh tranh” do Nhật Bản cung cấp trong kỳ họp thứ 2 của diễn đàn thảo luận toàn cầu về cạnh tranh, tổ chức vào 12-13 tháng 2 năm 2004.
[7] -nt-.
[8] -nt-.
[9] Tài liệu “Chính sách người tiêu dùng thời kỳ hậu chiến ở Nhật Bản” http://www.ciaonet.org/book/map02/map02_04.85_110.pdf
[10] “Thử thách của các cơ quan cạnh tranh trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua cạnh tranh” – tài liệu do Nhật Bản trong kỳ họp thứ 2 của diễn đàn thảo luận toàn cầu về cạnh tranh do OECD tổ chức vào 12-13/2/2004.

[11] Phát biểu tại Hội nghị về chính sách cạnh tranh do APEC tổ chức vào 24/05/2005 tại Jeju, Hàn Quốc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét